Vài
Điều Căn Bản của Phật Giáo
theo
nhăn quang của một bác sĩ
đă bị
méo mó nghề nghiệp.
Bác sĩ
Nguyễn Lưu Viên
PHẦN
BA
Prophylaxie : Nói Về Thiền
Các
Cụ ngày xưa hay nói “học th́ phải hành, chớ học mà không hành th́ học làm ǵ?”
Trong hai phần trước chúng ta đă “học” được một chút ít về Phật Giáo. Th́
bây giờ chúng ta phải biết “hành”. Hành bằng cách nào? Bằng cách “Thiền”
Hỏi:
Tại sao hành đạo là phải thiền ?
Sách
“Hoa Trôi Trên Sóng Nước” Nguyên tác Journey in Search of the Way
của Satomi Myodo, Nguyên Phong dịch, Làng Văn xuất bản tháng 8 năm 1996.
[tr.195]:
Học nhiều mà không biết áp dụng th́ chỉ là một mớ kiến thức suông không ích
lợi ǵ cho việc giải thoát hết…
Sau
khi chứng ngộ ở dưới gốc cây bồ đề, Đức Phật Thích Ca đă thốt lên : “Thật là
kỳ diệu thay, tất cả mọi chúng sinh đều có Phật tánh nhưng v́ bị “Vô
Minh” che lấp nên họ không nhận ra điều ấy.”
Lời
tuyên bố đầu tiên của Đức Phật chính là tính yếu của toàn bộ giáo lư của
Ngài. Đúng như thế, mọi chúng sinh dù nam hay nữ, dù thông minh hay khờ dại, dù
đẹp đẽ hay xấu xa, dù khỏe mạnh hay yếu đau, đều có Phật tánh như nhau. Trải qua
bao nhiêu kiếp sống luân hồi, tâm thức của chúng sinh đă bị những lớp vỏ cứng
của vô minh bao phủ nên họ không thể nhận thức được cái Phật tánh toàn vẹn ,
trong sạch, ḥan hảo kia nữa. Muốn giải thoát, chúng ta phải quay về với cái
Phật tánh đó để thấy rơ rằng bao nhiêu lâu nay chúng ta đă để cho vô minh lôi
cuốn mà không hề hay biết.
Phương pháp hữu hiệu nhứt để trở về với cái Phật tánh thanh tịnh đó là tọa
thiền.
Lịch sử Phật giáo đă chứng minh hùng hồn rằng từ Đức Phật đến các đệ tử của
Ngài, đều giác ngộ nhờ công phu tọa thiền.
Tâm
của Phật và tâm của chúng sinh thật ra không hề khác nhau. Cái tâm này có thể ví
như mặt nước hồ, tâm của Phật th́ như mặt nước yên tĩnh trên đó mặt trăng chân
lư có thể phản chiếu một cách ṭan vẹn. Trong khi tâm của chúng sinh th́
giống như mặt nước đang bị các làn sóng vô minh khuấy động, không thể phản chiếu
ǵ được. Mặt trăng chân lư lúc nào cũng chiếu sáng, do đó vấn đề chính của sự
tu tập là làm sao để cho tâm của ḿnh có thể phản chiếu rơ ràng mặt trăng chân
lư mà thôi.
Bây
giờ quư vị nên tự hỏi cái ǵ đă làm khuấy động tâm của quư vị ? Phải chăng đó là
các tư tưởng ? Trong việc tu tập, việc đầu tiên quư vị phải làm là gạt bật các
tư tưởng lúc nào cũng dấy lên này. Đây là điều không phải là dể, v́ trải qua bao
nhiêu kiếp sống một cách vô ư thức, vọng niệm đă thành một thói quen không dể ǵ
mà bỏ ngay được. Quư vị nên nhớ tất cả mọi tư tưởng, dù thanh cao hay xấu, đều
có khởi đầu và có chấm dứt. V́ có sinh nên có diệt, nhưng v́ nó cứ tiếp tục nổi
lên nên quư vị tưởng rằng nó thường hằng. đó là cái sai lầm đầu tiên. Nếu những
tư tưởng này tiếp tục khuấy động tâm của quư vị, quư vị không thể phân biệt cái
thật với cái hư được.
Con
người đă đánh giá cao các tư tưởng trừu tượng, các phân biệt của lư trí, của lư
luận, nhưng tất cả những cái này đều là sản phẩm của tư tưởng. mà đă là sản phẩm
của tư tưởng,vốn vô thường, có sinh có diệt, th́ gốc rễ của nó đă nằm ở chốn vô
minh rồi.
Tư
tưởng chính là tâm bệnh của con người.
nó chính là nguồn gốc của sự mê hoặc và quư vị cần phải phân biệt thật rơ vai
tṛ của tư tưởng, lư trí có tính cách nhứt thời với các khái niệm cố định.
Thiền
định là phương pháp làm ngưng lại và dứt đi những tư tưởng này.
Một khi các làn sóng tư tưởng khuấy động đó dứt tuyệt th́ quư vị sẽ nhận thấy
rằng mặt trăng chân lư lúc nào cũng chiếu sáng. Giây phút nhận ra điều này là “
kiến tánh” tức là “ngộ” là hiểu rơ được bản thể chân thật của tự
tánh. Khác với những ư niệm lư luận hay triết học, vốn xuất phát từ tư tưởng,
nghĩa là có khởi đầu và có chấm dứt, và có thể thay đổi theo thời gian, sự chứng
ngộ chân lư, khi các làn sóng tư tưởng chấm dứt này, không thay đổi hay có thể
mất đi được. Nó sẽ ở măi măi với quư vị , và từ đó quư vị có thể sống một cách
thoải mái b́nh an trong cái tâm trạng đầy phúc lạc, thanh thản đó…
Hỏi:
Trong lúc hành thiền có cái ǵ có thể xẩy
ra ?
[
tr.198 ].Thiền sư Yasutani nói: Ma cảnh [Makyo] Ma cảnh là
những hiện tượng không có thật, những cảm giác hư huyền, những ảo tưởng mà người
tu thiền thường gặp phải trong giai đoạn nào dó. Ma cảnh là những vọng tưởng
đến và đi theo thời gian nhưng nó sẽ trở thành “chướng” khi người tu, v́ thiếu
sự chỉ dẫn, để nó quyến rũ và tưởng rằng nó là thật. Ma cảnh thừơng xuất hiện
tùy theo nhân cách, tính khí của người tu.
Trong
kinh Lăng Nghiêm đức Phật đă giảng về năm mươi hai [52] loại Ma-cảnh
khác nhau. Trong các tuần lể nhiếp tâm, thường thường học tṛ của tôi bắt đầu
kinh mghiệm về Ma cảnh vào ngày thứ ba hay thứ tư. Sau khi siêng năng tu tập để
kiềm chế tư tưởng, đến một lúc nào đó Ma cảnh sẽ xuất hiện và điều này rất thông
thường, không có ǵ lạ đâu. Có người nh́n thấy các hiện tượng lạ lùng, có người
nghe được những lời nói hay mách bảo, xui khiến, có người c̣n ngửi được các mùi
hương, hay có thể sờ mó được một vật ǵ kỳ lạ. Có khi họ thấy thân thể nhẹ bổng
lên như bay, có khi họ cảm thấy rơi vào một hố thẩm không đáy, có khi họ bật ra
các câu hỏi kỳ lạ mà không thể kiểm soát được. Đôi khi những câu nói tưởng như
vô t́nh này lại trở nên linh nghiệm như những lời tiên tri. Nhưng dù thế nào
chăng nữa, nó vẫn là Ma cảnh, vẫn là những chướng ngại, vẫn xuất phát từ các tư
tưởng nghĩa là gốc rễ của nó nằm trong vô minh,.
Ma
cảnh ảo ảnh về thị giác là điều xẩy ra nhiều nhất, v́ mắt là giác quan gắn liền
với tư tưởng và người ta xử dụng giác quan này nhiều hơn cả. Một cái nệm ghế
bỗng biến thành một con quái vật. Một vết nứt trên tường biến thành con rắn.
Nhiều đệ tử của tôi đă thấy hính ảnh ma quỷ nhẹ nhàng múa vuốt, hoặc thấy các
đức Phật hiện ra với hằng hà sa số đệ tử đi quanh ngài. Điều quan trọng nhất là
phải ư thức đó là Ma-cảnh, đừng để nó quyến rũ, lôi cuốn mà cứ để tự nhiên, v́
nó đến th́ nó sẽ đi. Đùng để tâm vọng động, cứ tiếp tục công phu thiền tập,
không sợ hăi, không vui mừng, v́ vui hay sợ, lo hay mừng, đều là những cảm giác
làm khuấy động tâm thức của người tu. Như tôi đă nói vấn đề quan trọng là làm
bặt đi mọi tư tưởng , làm sao để cho tâm trống rổng, yên tỉnh như mặt nước hồ
thu, th́ ánh của chân lư mới có thể phản chiếu một cách toàn vẹn được. Bất cứ
một cái ǵ làm cản trở điều này, đều là những chướng ngại, do đó điều quan trọng
nhứt là phải biết tự chủ.
Hỏi
: Những lư do nào làm cho Ma-cảnh xuất hiện ?
[
tr.200 ] Ma cảnh là những trạng thái của tâm thức xuất hiện một cách nhất
thời khi khả năng tập trung của con người đă đạt đến một mức độ nào đó. Nếu hiểu
theo một nghĩa khác, th́ công phu thực hành có tiến bộ, các lớp tư tưởng hời hợt
trong tâm thức có bị chế ngự, th́ Ma cảnh mới xuất hiện. Nếu giải thích theo
Duy-thức-học,th́ khi các vọng niệm thuộc thức thứ sáu đă lắng đọng, các chủng từ
tâm thức chứa đựng trong thức thứ bảy và thứ tám sẽ bị khích động và nổi lên,
tạo ra các h́nh ảnh, màu sắc, âm thanh đặc biệt. Ma cảnh là một sự trộn lẩn của
cái thực và cái không thực, hư hư ảo ảo. Nó khác cái giấc mộng thông thường v́
nó xuất phát từ những chủng tử hết sức vi tế nằm sâu trong tâm thức con người.
Một số người tu, thiếu sự chỉ dẩn của một vị thầy đă có kinh nghiệm về Ma-cảnh,
thường bị chúng quyến rũ và đi lạc vào ma đạo. Đừng bao giờ nghĩ rằng các hiện
tượng ḿnh kinh nghiệm trong lúc này là thật. Thấy một cảnh giới chư thiên
không phải là ḿnh đạt được cảnh giới đó, đă trở thành chư thiên. Thấy Phật hay
Bồ-tát không có nghĩa là ḿnh đă nhập được vào các Pháp hội. nghe Phât thuyết
pháp mà lầm lẫn. Một người tu tập phải biết coi đó là giấc mộng. là hư, là vọng
tưởng, là những chướng ngại làm cản trở công phu tu hành. Dù thấy bất cứ điều
tốt lành ǵ cũng đừng phấn khởi, dù thấy điều ǵ xấu xa cũng đừng sợ hải, v́ nếu
trong tâm này sinh bất cứ một cảm giác ǵ, nó củng khuấy động mặt nước hồ tâm,
cản trở sự phản chiếu ṭan vẹn của ánh trăng chân lư.
Khi
tu tập đến mức thuần thục, các Ma-cảnh c̣n xẩy ra ghê gớm hơn nữa. Có khi người
ta thấy vào cỏi Phật, thấy được ban phúc, được truyền những mặc khải rồi tưởng
ḿnh đă chứng đắc này nọ. Tất cả những cái đó đều là Ma-cảnh. Nếu bị quyến rũ,
nếu để tâm vọng động th́ kết quả chỉ là sự phung phí năng lực mà thôi. Nhưng nói
một cách khác, khi bắt đầu thấy những Ma-cảnh đó là dấu hiệu cho biết ḿnh đă
đến một mốc điểm quan trọng nào đó rồi. và nếu giữ tâm yên tỉnh, không bị xao
động th́ chắc chắn sẽ thành công, sẽ kiến tánh, sẽ giác ngộ. Đức Phật cũng đả
trải qua bao nhiêu thử thách, bao nhiêu khó khăn, trước khi thành đạo dưới gốc
cây bồ đề. Người ta có thể cho rằng những Thiên Ma, hiện ra khuấy phá, thử thách
Ngài, nhưng cũng có thể cho đó là những Ma-cảnh mà Ngài kinh nghiệm trước khi
đạt đến trạng thái giác ngộ. Dù thế nào chăng đi nữa phải biết coi thường
những hiện tượng này , cứ để nó đến, rồi nó đi, không phản ứng, không chống đối,
không vui cũng không buồn, không mừng cũng không lo, thản nhiên bất động trước
mọi sự kiện, đó chính là điểm then chốt của người tu thiền. Theo
kinh nghiệm của tôi , Ma-cảnh thường xẩy ra khi sự điều hành của hơi thở và tâm
thức chưa được hoàn chỉnh. Khi thân và tâm chưa được ḥan ṭan nhứt-như th́ sự
sai lệch này có thể tạo ra những hiện tượng kỳ lạ , do đó thế tọa thiền và việc
đều ḥa hơi thở rất cần thiết. Người ta không thể tu thiền một cách hấp tấp
mà phải chú trọng đến cách ngồi [ thiền tọa]
cho thật đúng cách, thật thoải mái, và buông xả ḥan toàn Nên nhớ thân và
tâm là một , bất cứ một sự căng thẳng của thân cũng ảnh hưởng đến tâm, và bất cứ
một sự xung đột nào của tâm cũng ảnh hưởng đến thân. Việc ngồi thoáng nghe thấy
giản dị nhưng thật ra quan trọng không kém việc đều ḥa hơi thở. Phần
lớn các thầy dạy thiền thường quá chú trọng đến việc đếm hơi thở hay tham công
án mà xao lảng việc dạy học tṛ phải ngồi sao cho thật đúng cách. Phần đông hoc
tṛ cũng quá nôn nóng hấp tấp vào những công án lạ lùng, các quán tưởng cao xa
trong khi chưa biết cách ngồi sao cho thoải mái. Có lẽ đó là lư do nhiều người
tu thiền đă bỏ cuộc v́ ngồi lâu chân tay tê buốt đau đớn mà chẳng thấy kết quả
ǵ khả quan. Tư thế trong lúc tọa thiền chính là một trong những căn bản quan
trọng của công phu tu tập. Đừng tưởng chỉ ngồi xếp bằng, điều ḥa hơi thở, tập
trung tâm thức là được. Đừng tưởng chỉ tham công án hay quán tưởng vào các h́nh
ảnh, màu sắc là đủ. Một người tu thiền phải biết ngồi một cách trang nghiêm,
thành kính với ḷng biết ơn sâu xa chư Phật và chư Tổ, những người đă làm cho
Phật pháp biểu hiện._ Một người tu thiền c̣n phải biết ơn tổ tiên, cha mẹ đă tạo
ra thân thể, h́nh hài này nhờ đó mà người ta có thể kinh nghiệm được thưc tánh
của Pháp.Chính nhờ biết cách ngồi một cách trang nghiêm mà tâm thức sẽ trở nên
thành kính, rồi từ đó cử chỉ hành động như đi,đứng, ăn ngủ cũng ảnh hưởng theo
mà có sự chuyển hóa. Nhờ công phu tọa thiền mà tâm thức được thoải mái, các vọng
tưởng dần dần lắng xuống, và tâm được thanh tịnh. Khi tâm và thân đă quân b́nh
th́ sự an lạc sẽ đến, và chỉ trong sự an lạc này người ta mới kinh nghiệm rơ rệt
được từng hơi thở sống động,mầu nhiệm từng phút từng giây. Từ đó sự hô hấp, vốn
có tính cách vô thức và thụ động, sẽ chuyển qua ư thức và tích cực, và ṭan bộ
diển biến của sự sống sẽ biểu hiện ra một cách rơ ràng hơn bao giờ hết.
Tóm
lược việc ngồi cho đúng cách là căn bản chính yếu , cần thiết cho
những người mới bước vào con đường thiền.
Học
cách ngồi thiền và các loại thiền
Đừng
cố gắng ngồi cứng ngắc như khúc gổ, vừa không tự nhiên, vừa quá căng thẳng,
nhưng cũng đừng ngồi một cách cẩu thả, nặng nề, tŕ trệ như như bị một vật ǵ đè
nặng trên vai. Tư thế ngồi phải thật thoải mái, vững chăi, do đó khi mới tập nên
ngồi khoảng 15 phút cho quen thuộc, cho gân cốt co giăn tự nhiên theo tư thế,
rồi dần dần tăng lên đến nửa giờ rồi một giờ. Dĩ nhiên thời gian tọa thiền lâu
hay mau tùy ḷng nhiệt thành và công phu hành tŕ, nhưng khi người ta có thể
ngồi khoảng từ nửa giờ đến một giờ mà thân thể không đau đớn, tê buốt, th́ cảm
giác an lạc, thoải mái, sẽ đến một cách tự nhiên.
Theo
sách “Phật Pháp Căn Bản” Suy Nghiệm Theo Nguyên Lư, do Minh Không biên
soạn – Hè 2005 Trung Tâm Magnolia ấn hành tại Hoa Kỳ .
[
tr.172
]Thiền Chỉ
(Chánh Định) và Thiền Quán (Chánh Niệm):
Thiền
nghĩa là pháp hành, bất luận là phương pháp ǵ, dùng để thanh lọc các ô nhiễm
(Tham, Sân, Si) trong tâm, chuyển tâm từ trạng thái tà sang chánh,
phát triển trí-huệ
-
trọng yếu là trực nhận được tánh Không – dẫn đến giải thoát. Tất cả các
pháp thiền đều không nằm ngoài hai loại là Thiền Chỉ và Thiền Quán.
Chỉ
có nghĩa là dừng, đứng lại một chổ.
Thiền
Chỉ
là pháp hành gom tâm lại không cho nó lay động, giữ nó an trú trên đối tượng do
tâm không bị chi phối bởi cảnh vật bên ngoài cũng như những tư tưởng bên trong,
nên đạt đến trạng thái vắng lặng, sự định tâm.
Thiền
Quán
là quán sát tất cả các hiện tượng tinh thần (tâm) lẫn vật chất (thân và cảnh)
để có thể phát triển trí huệ, trực nhận được thực tại như nó là.
Nói
vắn tắt: Thiền Chỉ là Chánh Định dẫn tới Định; Thiền Quán là Chánh Niệm dẫn tới
Huệ (trí huệ giải thoát).
Mục
đích tối hậu của việc tu hành là đạt đến trí huệ để phá trừ vô minh, bởi vậy
không thể không hành Thiền Quán được. Thế, nhưng cả hai thiền Chỉ và thiền Quán
đều quan trọng trong công việc tu tập, như chim bay phải có đủ cả hai cánh. Định
là dụng cụ trợ giúp cho thiền Quán, v́ nếu tâm bị giao động, không an trú được
trên đối tượng th́ hành giả khó ḷng quán sát được đối tượng và không thể quán
sát ở mức độ sâu xa vi tế.
[tr.224]:
40 đề
Mục Thiền Chỉ:
10 đề
mục kasina:
đất,
nước, gió, lửa,/
xanh,
vàng, đỏ, trắng./hư không./ánh sáng.
10 đề
mục tử thi:
tử
thi śnh trướng./ tử thi śnh tím xanh nhiều chổ./ tử thi chảy mủ./
tử
thi bị chặt đứt nữa thân./tử thi có dấu vết thú ăn nhiều chổ./tử thi bị chặt đứt
rời ra từng đọan./ tử thi bị bầm nhiều chổ./ tử thi bị phạm khí giới bê bết
máu./tử thi có gịi đụt khoét tràn đầy chín khiếu./tử thi chỉ c̣n những khúc
xương rời rạc.
10 đề
mục niệm niệm:
luôn luôn quán niệm đức của Phật./ niệm đức của Pháp./ niệm đức của Tăng./ niệm
đức của Giới./ niệm đức của Bố Thí./niệm đức tin của chư Thiên và của Ḿnh./
niệm sự Chết./ niệm thân thể./ niệm Hơi Thở ra vào./ niệm Niết Bàn.
4 đề
mục vô lượng tâm:
TỪ./
Bi./ Hỷ./ Xả.
4 đề
mục vô sắc:
Không
Vô Biên Giới.[Infinity of Space]./ Thức Vô Biên Giới [ Infini-ty
of Consciousness]./ Vô Sở Hữu Xứ [Nothingness]./ Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ
[Neither Perception Nor Non Perception].
1 đề
mục tưởng
1 đề
mục phân biện.
Theo
sách “Đức Phật và Phật Pháp” tác giả Nărada Mahă Thera ,
Phạm Kim Khánh dịch 2545/2001
[tr.547
]. Chương 36- Con Đường Niết Bàn (II):
Tâm
Định
[Samădhi].
Đă
vững vàng trên nền tảng giới luật, hành giả mạnh dạn bước vào con đường cao
thượng hơn – hành thiền -- để tiến đến tâm định [samădhi] , tức
là kiểm soát và trao giồi tâm, giai đọan thứ nh́ của con đường trong sạch [Thanh
Tịnh Đạo].
Định
[samădhi] là giữ tâm an trụ vào một điểm, gom tâm vào một đề mục, và ḥan
toàn không hay biết ǵ khác, ngoài đề mục ấy.
Theo
Phật Giáo có bốn mươi (40) đề mục hành thiền [kammatthăna] khác nhau, [xem
tr. trước] tùy tâm của mỗi cá nhân.
a
-
Mười đề mục dùng vật sáng chế để niệm [kasina];
b
-
Mười đề mục về tử thi [asubha] ;
c
-
Mười đề mục suy niệm [anussati]; [trong nhóm này có Niệm hơi thở [Ănăpănăsati];
d
-Tứ
Vô Lượng Tâm , hay là bốn phẩm hạnh cao thượng [Brahmavihăra] ;
e
- Một
đề mục quán tưởng [Sannă, Tưởng, tri giác] ;
f
- Một
đề mục phân tách [catudhăttuvavatthăna ] ;
g
- Bốn
Thiền Vô Sắc ;
Đế
mục thích hợp với bẩm tánh khác nhau,,,
Những
đề mục hành thiền có thể ít hay nhiều thích hợp với mỗi bẩm tánh và mỗi hạng
người.
Trước
khi thực hành thiền tập, hành giả nên thận trọng quan sát đề mục tham thiền.
Thuở xưa, muốn hành thiền phải t́m đến sự hướng dẫn của một vị thầy có khả năng
và nhờ sự trợ giúp của vị này, chọn một đề mục thích hợp với bẩm tánh ḿnh.
Ngày nay , hành giả phải tự ḿnh xem xét lấy và chọn đề mục mà ḿnh cho là thích
hợp nhật.
Khi
đề mục đă được chọn, hành giả phải rút vào một nơi yên tĩnh, càng ít bị khuấy
động càng tốt. Một cụm rừng, một hang đá, hoặc nơi vắng vẽ nào khác cũng có thể
thích nghi. Ở những nơi ấy hành giả ít bị phiền nhiễu trong khi hành thiền.
Nên
biết rằng cảnh vắng lặng ở bên trong tất cả mọi người. Nếu tâm không an, dầu ở
giữa rừng sâu tịch mịch cũng không thích hợp. Nhưng nếu tâm không bị giao động
th́ ở trung tâm thành phố cũng được. Khung cảnh chung quanh chỉ tác động một
cách gián tiếp, giúp tâm an trụ.
Điều
kế đó mà hành giả phải quyết định là giờ giấc, lúc mà chính hành giả và khung
cảnh chung quanh có nhiều điều kiện thuận tiện nhất để hành thiền.
Sáng
sớm , tâm trí c̣n tươi tỉnh, hoặc tối, trước khi đi ngủ, nếu không quá mệt,
thường là lúc thích hợp nhất để hành thiền. Tuy nhiên, dầu th́ giờ nào mà ta đă
chọn, nên cố giữ lấy đúng giờ ấy mỗi ngày, để tập cho tâm được quen, có ảnh
hưởng tốt đẹp đến pháp hành.
Cách
ngồi cũng có thể giúp ích nhiều cho việc gom tâm. Người phương Đông thường ngồi
tréo chân mặt đặt trên vế trái và chân trái đặt trên vế mặt, thân ḿnh ngay
thẳng. đó là lối ngồi kiết già. Nếu không quen ắt thấy khó ngồi như thế.
Nhiều người ngồi bán già dể dàng hơn. Chỉ để chân mặt trên vế trái
, hay chân trái trên vế mặt, c̣n chân kia th́ để dưới luôn, khỏi phải tréo lên.
Khi
ngồi theo điệu tam giác ấy th́ thân ḿnh vững vàng. Tay mặt đặt trên tay trái,cổ
ngay, giữ mũi nằm trên một đường thẳng góc với rún. Lưỡi ép sát trên nóc giọng.
Sắp sữa quần áo ngay ngắn,và lưng quần không nên thắt chặt lắm. Vài người chịu
nhắm kín mắt lại, đèn mở ánh sáng lu lu để khỏi thấy những ǵ không cần thiết.
Mặc
dầu nhắm kín mắt cũng có lợi, nhưng thường hay làm buồn ngủ. Đến lúc muốn ngủ
rồi th́ hành giả không c̣n kiểm soát tâm được nữa. Những tư tưởng bất định phát
sanh, không c̣n giữ thân ngay ngắn, vô t́nh mở miệng, chảy nước vải và gục đầu.
Chư
Phật thường ngồi kiết già, h́nh đóa sen búp, mắt nhắm phân nửa, nh́n theo chóp
mũi đến chí đất, không xa hơn chổ ngồi lối một thước hai.
Người
nào thấy lối ngồi kiết già khó khăn, có thể thuận tiện ngồi trên ghế, hay chổ
nào khác, vừa đủ cao để hai bàn chân gác trên mặt đất.
Thế
ngồi không quan trọng. Hành giả tùy tiện ngồi thế nào cũng được, miễn là nghe
thoải mái và dể dàng là được…Đức Phật khuyên: “Cắn chặt răng lại và ép lưỡi sát
vào nóc giọng phía trên, hành giả vận dụng hết năng lực để kềm chế tâm và như
vậy, khi cắn răng lại và ép lưỡi sát phía trên, cưỡng bách và kềm chế tâm, những
tư tưởng
xấu
xa và nguy hại sẽ suy nhược dần và tiêu
tan.
Do đó tâm sẽ lắng dịu, an trụ, thuần nhất và định [Majjhima Nikăya, Vitakka
Santhăna Sutta, số 20]
Phương pháp “Niệm Hơi Thở”.
Niệm
hơi thở
[ănăpănasati][ Ăna có nghĩa là thở vô, Apăna là thở ra ].
Pháp hành thiền luyện hơi thở là phương pháp luyện tập cho tâm an tựu, đồng thời
giúp hành giả chứng ngộ minh sát tuệ và dẩn đến Đạo Quả A La Hán.
Đây
là một đề mục hành thiền rất lợi ích và có thể thích hợp với tất cả mọi người.
Xưa kia Đức Phật cũng đă áp dụng pháp hành thiền về hơi-thở-vô thở-ra này trước
khi thành tựu Giác Ngộ.
Kinh
Satipatthana Sutta (Tứ Niệm Xứ) và sách Visuddhi Magga (Thanh
Tịnh Đạo) có tŕnh bày pháp môn bổ ích này với đầy đủ chi tiết.
Sau
đây là một vài điều chỉ dẩn cho người hành giả sơ cơ:
Nên
chọn lối ngồi thích hợp. Giữ thân ḿnh ngay thẳng. Đặt tay mặt lên trên tay
trái. Mắt nhắm hoặc mở hi hí.
Trước
khi khởi niệm từ từ thở ra dài bằng miệng, rồi ngậm lại. Kế đó thở vô bằng mũi
như thường, không cố sức thở mạnh quá, mà cũng không yếu quá. Lúc thở vô đếm
thầm “một” Rồi thở ra , đếm “hai” .Luôn luôn chú tâm theo hơi thở, không tưởng
nhớ tới điều chi khác. Và cứ thở vô đếm “ba”, thở ra đếm “bốn”, như thế đến
‘mười”.
Trong
khi niệm tâm hành giả có thể xao lăng phóng dật. Nhưng không nên ngă ḷng. Hăy
cố gắng cho đến khi kềm giữ được tâm vào hơi thở. Từ từ hành giả có thể tăng
thêm loạt số, như đếm đi đếm lại đủ năm loạt từ “một’ đến “mười” chẳng hạn. Về
sau hành giả có thể chú tâm vào hơi thở mà không cần đếm. Có người thích đếm v́
có đếm th́ gom tâm được dễ dàng. Cũng có nhiều ngừoi không thích. Điều chánh
yếu là gom tâm; đếm là phụ thuộc. Khi thực hành pháp thiền tập này, hành giả cảm
thấy thân nhẹ nhàng và rất an lạc. Sau khi kinh nghiệm một thời gian, ngày kia
hành giả thông hiểu được rằng cái mà người gọi là thân đây chỉ sống nhờ hơi thở
và khi hơi thở chấm dứt th́ thân này phải chết. Tức khắc hành giả nhận định lư
vô thường của vạn hữu. Nơi nào biến đổi vô thường th́ nơi ấy không thể có thực
thể trường tồn, hay linh hồn bất diệt. Chừng ấy tuệ minh sát được triển khai để
chứng ngộ Đạo Quả A La Hán.
Điều
này rơ ràng chứng tỏ rằng mục tiêu của pháp hành thiền về hơi thở chẳng những
là trau giồi tâm an trụ, mà c̣n khai thông minh sát tuệ để thành đạt giải thoát
cuối cùng.
Đây
là một phương pháp giản tiện và vô hại mà tất cả mọi người đều có thể thực hành.
Để có
đầy đủ chi tiết, đọc giả có thể tham khảo bộ Visuddhi Magga (Thanh Tịnh
Đạo).
Theo
Kinh Tứ Niệm Xứ Satipatthăna pháp niệm hơi thở có thể thực hành
như sau:
“Thở
vô, hành giả ghi nhận thở vô. Thở ra hành giả ghi nhận thở ra.
1-“Khi thở vô dài, hành giả biết :Tthở vô dài” Khi thở ra dài, hành giả biết
“Thở
ra dài".
2-“Khi thở vô ngắn, hành giả biết ;”Ta thở vô ngắn”. Khi thở ra ngắn, hành giả
biết:
“Ta
thở ra ngắn.”
3-“Trí giác rơ ràng và trọn vẹn tiến tŕnh của hơi thở (tức chặng đầu, chặng
giữa và chặng cuối) “ta sẽ thở vô “ hành gia tự luyện tập lấy như thế; trí giác
rơ ràng và trọn
vẹn
tiến tŕnh của hơi thở, “ta sẽ thở ra “: và hành giả tự luyện tập lấy như thế.
4-“
Làm cho hơi thở êm dịu,’ta sẽ thở vô’, hành giả tự luyện tập lấy như thế. Làm
cho
hơi
thở êm dịu,’ta sẽ thở ra’, hành giả tự luyện tập như thế”.
Theo
sách “Ngay Trong Kiếp Sống Này” tác giả Sayadaw U Pandita, Tỳ kheo Khánh
Hỷ (Aggasămi Trần minh Tài) sọan dịch, Như Lai Thiền Viện 1996.
[
tr.5
]
Chỉ
Dẩn Cách Hành Thiền.
Những
nơi tốt nhất để hành thiền theo lời chỉ dẫn của Đức Phật , là trong khu rừng,
dưới cội cây hay một nơi vắng vẻ yên tịnh. Thiền sinh phải ngồi kiết già một
cách an tịnh và tĩnh lặng. Nếu ngồi kiết già quá khó khăn , có thể ngồi cách nào
cũng được. Những ai đau lưng trầm trọng có thể ngồi ghế dựa. Muốn tâm yên th́
thân phải yên tịnh, v́ thế, thiền sinh cần phải chọn lối ngồi thích hợp với ḿnh
để có thể ngồi lâu một cách thoải mái. Lúc ngồi phải giữ lưng ngay ngắn, thẳng
góc với mặt đất,nhưng không cứng ngắt. Ngồi thẳng th́ trông dể coi. Khi ngồi
thẳng th́ xương sống không bị cong, giúp chúng ta có thể ngồi lâu. Hơn nữa,tinh
tấn thể chất để giữ thân ngồi thẳng mà không cần một sự hổ trợ nào sẽ tạo năng
lưc cho việc hành thiền.
Nhắm
mắt lại. Đặt tâm ở bụng. Thở b́nh thường, đừng cố gắng thở mạnh, thở nhanh hay
chậm. Cứ để hơi thở tự nhiên. Bạn sẽ thấy được những cảm giác bên trong khi
bụng chuyển động lên xuống. Hảy chú tâm vào mọi tiến tŕnh của chuyển động phồng
xẹp này. Hảy theo dơi các cảm giác từ lúc bụng bắt đầu phồng, kéo dài và chấm
dứt. Cũng vậy, hảy chú tâm vào chuyển động xẹp, đoạn đầu, đoạn giữa và đọan
cuối.
Theo
dơi chuyển động đoạn đầu, đoạn giữa và đoạn cuối, không có nghĩa là chỉ theo dơi
ba thồi điểm , mà phải theo dơi các tiến tŕnh chuyển động một cách liên tục từ
đầu đến cuối. Hảy chú tâm nột cách tự nhiên thoải mái. Đừng quá chăm vào các cảm
giác của bụng. Đừng có t́m xem sự phồng xẹp khởi đầu và chấm dứt như thế nào.
Trong
việc hành thiền, điều quan trọng là phải có sự tinh tấn và sự hướng tâm chính
xác vào đối tượng để tâm tiếp xúc với cảm giác một cách trực tiếp và đầy năng
lực. Để hỗ trợ cho việc tập trung tâm ư vào đề mục một cách mạnh mẽ, chính xác,
bạn có thể niệm thầm phồng, phồng, phồng, hay xẹp, xẹp, xẹp,
khi quan sát chuyển động của bụng.
Theo
sách “Đại Niệm Xứ” của thiền sư Sayadaw U Silănanda, Tỳ
kheo Khánh Hỷ (AggasămiTrần Minh Tài) soạn dịch, Như Lai Viện 1999,
Hướng
Dẩn Hành Thiền
[tr.335-356]
Tóm lược :
Muốn
hành thiền trước hết bạn phải t́m một nơi thích hợp để để giúp cho việc hành
thiền của bạn được tốt đẹp. Nơi thích hợp là nơi yên tịnh. Bạn có thể t́m được
nơi yen tịnh trong thiên nhiên. Tuy nhiên nếu bạn hành thiền trong nhà, bạn phải
t́m một nơi thích hợp cho việc định tâm của bạn, và mỗi khi hành thiền bạn nên
đến đó . Bạn có thể tôn trí nơi hành thiền bằng một pho tượng hay ảnh Phật đèn,
hoa, thấp một nén nhang để hổ trợ cho việc hành thiền.Tuy nhiên những thứ trên
không phải là điều thiết yếu. Điều quan trọng là bạn phải có một nơi yen tịnh để
thiền. Bắt đầu hành thiền, bạn phải chọn một thế ngồi thoải mái thích hợp với
bạn. Bạn có thể ngồi xếp bằng, lưng giữ thẳng. Nếu ngồi kiết già hai chân tréo
vào nhau, quá khó đối với bạn th́ bạn có thể ngồi bán già, đặt chân này lên chân
kia. Nếu ngồi bán già cũng c̣n khó khăn đối với bạn, th́ bạn có thể ngồi theo
“lối Miến Điện” hay c̣n gọi là “lối dễ dàng” chân này đặt trước chân kia, hai
chân rời ra mà không chồng lên nhau. Nếu vẫn c̣n thấy khó khăn, bạn có thể ngồi
trên ghế, hoặc trên băng dài. Bạn cũng có thể dùng gối đệm nếu muốn. Mặc dầu
ngồi kiết già là tư thế lư tưởng, nhưng bạn phải quyết định chọn cho ḿnh một tư
thế thích hợp để có thể duy tŕ việc hành thiền một cách tốt đẹp nhứt. Dầu ngồi
ở tư thế nào đi nữa, điều quan trọng là phải giữ thân thể và lưng cho ngay
thẳng.
Thiền
Minh Sát.
Khi
hành Thiền Minh Sát,[tr.344] thiền sinh chỉ thuần theo dơi các hiện tượng đang
xẩy
ra hoặc nếu muốn có thể niệm thầm theo khi ghi nhận các đề mục đó. Khi theo dơi
một cách tinh tấn, chánh niệm, dần dần bạn sẽ đạt được mức độ tỉnh thức cao nhờ
đó có thể thấy được chân tướng của sự vật. Đó là sự kết hợp tạm thời của thân
cũng như của tâm, của các hiện tượng tâm vật lư hiện đang xẩy ra. Chúng mang
bản chất vô thường, khổ hay bất toại nguyện, và vô ngă hay không có cốt lơi.
không kiểm soát được. Một khi
nh́n
thấy được ba bản chất thật sự này rồi, th́ bạn sẽ loại bỏ được ư tưởng sai lầm
(tà kiến) về sự vật. Nhờ biết đứng đắn chân tướng của sự vật, bạn sẽ giảm bớt
tham ái, dính mắc vào thân và tâm, và do đó các phiền năo đă cản trở hay ngăn
chận sự giác ngộ sẽ dần dần bị suy yếu đi.
Khi
hành thiền Minh Sát, bạn phải chọn một đề mục để chú tâm theo dơi. Đề mục này
gọi là đề mục chính. Theo truyền thống, thiền sinh thường chú ư vào hơi thở.
Lấy hơi thở làm đề mục chính. Bạn đặt tâm ở cửa mũi theo dơi hơi thở vào và
hơi thở ra. Nếu muốn, bạn có thể niệm thầm trong khi theo dơi hơi thở như vậy.
Hơi
thở vào và hơi thở ra kéo dài khoảng bốn [4] đến năm [5] phút. Khi chú tâm ghi
nhận hơi thở vào, bạn sẽ cảm nhận được cảm giác của hơi thở ở mũi hay bên trong
mũi. Bạn phải chú tâm vào cảm giác của hơi thở trong suốt quá tŕnh từ đầu đến
cuối. Hảy chú tâm vào bản chất của hơi thở, đó là bản chất chuyển động hay bản
chất nâng đỡ, chớ không phải chú tâm vào h́nh dáng hay tướng của hơi thở. Hảy cố
gắng quán sát hơi thở vào và hơi thở ra riêng biệt nhau, đừng nhập chung. Đừng
để tâm chạy theo hơi thở vào trong cơ thể hay hơi thở ra khỏi cơ thể. Tâm bạn
đặt tại cửa mũi ghi nhận cảm giác khi hơi thở ra vào như người gác cửa ghi nhận
kẻ ra người vào mà thôi. Đừng cố gắng thúc ép hay điều khiển hơi thở. Hảy b́nh
thản, thoải mái ghi nhận và theo dơi hơi thở. Bạn có thể niệm thầm khi chú tâm
theo dơi hơi thở vào và hơi thở ra. Khi thở vào bạn niệm “vào” và khi thở
ra bạn niệm “ra”. Bạn chỉ thuần chú tâm ghi nhận hơi thở mà đừng chú ư
ǵ đến những quấy nhiễu hay đề mục phụ đang ảnh hưởng đến sự định tâm của bạn.
Nếu thấy sự niệm thầm hổ trợ cho việc định tâm của bạn th́ bạn nên làm. Nếu thấy
sự niệm thầm gây trở ngại cho sự tập trung tâm ư th́ đừng niệm mà chỉ chánh niệm
ghi nhận là đủ. Khi tâm bạn chỉ an trú trên đề mục hơi thở không bị phóng tâm
th́ đó là điều tốt đẹp.Tuy nhiên, tâm có khuynh hướng phóng đi nơi khác. Khi bị
phóng tâm hay hay vọng tâm, bạn phải ư thức điều đó, phải ghi nhận sự phóng tâm
này. Khi phóng tâm bạn có thể niệm thầm: “phóng tâm, phóng tâm, phóng tâm”,
rồi trở về với đề mục hơi thở. Khi có vật ǵ hay người nào hiện ra trong tư
tưởng bạn, th́ bạn hảy thuần ghi nhận sự thấy này, hoặc có thể vừa ghi nhận vừa
niệm thầm “thấy, thấy,thấy][“nghe, nghe, nghe”] [“nói, nói,nói]
……Nếu bạn thấy chán nản, hảy thuần ghi nhận sự chán nản này, hoặc vừa ghi
nhận vừa niệm thầm “chán nản, chán nản, chán nản”, rồi trở về với đề mục
hơi thở…….[“làm biếng, làm biếng, làm biếng”]….Khi có tư tưởng luyến ái
hay tham lam, hảy thuần ghi nhận sự luyến ái này , hoặc vừa ghi nhận vừa niệm “luyến
ái, luyến ái, luyến ái” hay “tham lam, tham lam ,tham lam”,rồi trở
về với đề mục hơi thở Hoặc [”nóng giân, nóng giận, nóng giận”]…..[“ngứa,
ngứa ,ngứa”] [“đau, đau, đau”] v.v. rồi trở về với đề mục hơi thở.
Như thế hơi thở là đề mục chính trong việc hành thiền của bạn. Khi không có đề
mục lạ chen vào th́ bạn hảy tiếp tục ghi nhận hơi thở. Khi có đề mục nổi bật
xuất hiện, hảy ghi nhận, ư thức, quán sát đề mục này rồi trở về lại với đề mục
hơi thở. Đừng thúc ép. dồn nén ḿnh, hảy quan sát đối tượng một cách thoải mái,
nhẹ nhàng. Hảy chủ tâm chánh niệm ghi nhận hơi thở. Đừng cố gắng xua đuổi vọng
tâm, đừng cố gắng loại trừ những cảm giác hay cảm xúc ; chỉ thuần theo dơi, quan
sát chúng và để chúng tự ra đi.
Một
số người không thích hợp với đề mục hơi thở v́ không thể chú tâm hoặc cảm thấy
khó khăn ghi nhận hơi thở ra vào, th́ có thể chọn chuyển động phồng xẹp của bụng
làm đề mục chính.Chú tâm vào bụng và ghi nhận chuyển động phồng xẹp của bụng từ
lúc khởi đầu cho đến khi chấm dứt. Nếu không thấy được sự phồng xẹp bạn có thể
đặt tay lên bụng để cảm nhận sự chuyển động. Sau một vài lần làm như thế, bạn có
thể theo dơi được chuyển động phồng xẹp mà không cần đặt tay lên bụng nữa.
Tóm
lại, bạn có thể chọn hơi thở hoặc chuyển động của bụng làm đề mục chính cho việc
hành thiền. Nếu là thiền sinh mới bắt đầu thực tập, bạn có thể thử mỗi phương
pháp trong một thời gian và xem phương pháp nào thích hợp và dễ dàng giúp cho
ḿnh định tâm th́ hảy chọn phương pháp đó. Một khi đă chọn xong hảy nổ lực tinh
tấn theo dơi đề mục đó. Điều đáng ghi nhớ là hảy tham khảo với thiền sư trong
việc lựa chọn đề mục chính cũng như nhờ thiền sư hướng dẫn trong việc thực tập
để cho sự hành thiền đạt được kết quả tốt đẹp.
Trong
khi hành thiến, bạn đừng kỳ vọng hay mong ngóng điều ǵ, đừng cầu mong ḿnh sẽ
thấy hay đạt được những ǵ thật kỳ diệu hoặc lạ lùng. Mong cầu là một h́nh thức
vi tế của tham ái, dính mắc. Đó là một chướng ngại của sự định tâm cần phải loại
trừ.[Xem đọan nói về Ma cảnh ở trên ]
Sau
khi đă hành thiền được mười phút hay nhiều hơn, bạn có thể đi kinh hành.
Khi
thay đổi tư thế ngồi sang tư thế đứng để chuẩn bị đi kinh hành, bạn phải luôn
luôn cố gắng giữ tâm chánh niệm liên tục. Khi thực hành Thiền Minh Sát, điều
quan trọng là phải luôn luôn chú tâm ghi nhận với chánh niệm. Bởi vậy, bạn phải
thuần chú tâm ghi nhận hay vừa ghi nhận vừa niệm thầm “muốn, muốn, muốn”
. Sau đó chú tâm vào ṭan thể cơ thể, và từ từ dứng dậy. Trong khi đứng dậy, hảy
thuần chú tâm ghi nhận sự đứng dậy hay vừa chú tâm vừa niệm thầm “đứng dậy,
đứng dậy, đứng dậy” Khi đă đứng dậy rồi, hảy chú tâm vào sự đứng, trong khi
chú tâm vào sự đứng bạn có thể niệm thầm “đứng. đứng. đứng” .Khi đi kinh
hành, tốt nhất nên chọn lối đi đă có sẵn, rồi đi tới, đi lui trên đó.
Hăy
đi một cách chậm răi và chú tâm vào chân hay chuyển động của chân. Nên chú tâm
ghi nhân ít nhất bốn giai đoạn của mỗi bước. Để đi một bước, trước tiên bạn phải
dở chân. Hăy chú tâm vào chân và thuần chú tâm ghi nhận sự dở chân hay vừa chú
tâm vừa niệm thầm “dở, dở, dở ”. Khi chân đưa ra phía trước, hảy ghi nhận
chuyển động đưa tới, trong khi ghi nhận chuyển động bạn có thể niệm thầm “
bước, bước, bước ” Khi chân hạ xuống sàn hay xuống mặt đất, hăy ghi nhận sự
hạ chân xuống này, và có thể niệm thầm “ đạp, đạp, đạp ”. Khi bạn chuyển
sức nặng sang chân khác để thực hiện một bước mới hăy chánh niệm ghi nhận trên
ṭan thân thể và có thể niệm thầm “chuyển, chuyển,chuyển ” [Bạn cũng có
thể chú tâm vào sự ấn xuống của bàn chân sau khi đạp xuống và có thể niệm thầm “
ấn, ấn, ấn”] Sau đó tiếp tục thực hiện bước kế tiếp và lần lược ghi nhận
“dở,..
bước… đạp…chuyển”
[hay “ấn”]. Hăy đi một cách chậm răi trong chánh niệm và nh́n xuống phía
trước vào khoảng hai bước. Đừng nhắm mắt, v́ nhắm mắt bạn sẽ bị ngă. Mắt mở vừa
phải, nh́n vào lối đi.
Khi
đi cho đến cuối đường kinh hành, bạn đứng lại, hăy ghi nhận sự đứng lại này và
có thể niệm thầm “đứng lại, đứng lại, đứng lại”.
Khi
muốn quay lui, hăy ghi nhận ư muốn quay và có thể niệm thầm “muốn, muốn, muốn
Sau
đó quay từ từ. Trong khi quay hăy chú tâm chánh niệm vào chuyển động quay và có
thể niệm thầm “quay, quay, quay ” …
Đứng
lại, chánh niệm vào sự đứng lại. Muốn quay, chánh niệm vào sự muốn quay. Quay,
chánh niệm vào chuyển động quay, rồi tiếp tục đi hành như trước. Khi đi, hai tay
có thể nắm lại phía trước hay phía sau. Cứ như thế, tiếp tục đi cho tới hết giờ
kinh hành.
Kinh
hành và ngồi thiền cần phải xen kẽ nhau, sau giờ kinh hành lại đến giờ ngồi
thiền Trước khi ngồi xuống, phải ghi nhận ư muốn ngồi xuống. Sau đó ngồi xuống
một cách chậm răi, chú tâm vào ṭan thể cơ thể.
Cứ
thế, bạn liên tục ngồi thiền và đi kinh hành. Hăy cố gắng giữ tâm chánh niệm
liên tục đừng để thất niệm một giây phút nào trong suốt khó thiền.
Trong
khóa thiền, bạn cũng phải ăn uống trong chánh niệm. Hảy theo dơi chánh niệm mọi
động tác trong khi ăn.
Khi
nh́n thức ăn, hăy thuần chú tâm ghi nhận sự nh́n này hay vừa chú tâm vừa niệm :”nh́n,
nh́n, nh́n ” …..rồi “gắp, gắp, gắp”….”đưa, đưa, đưa”….”đụng,
đụng,đụng” .“ngậm, ngậm,ngậm ”….”nhai, nhai, nhai ”…”nuốt,
nuốt, nuốt”…xuống, xuống, xuống”
Hăy
chú tâm theo dơi với chánh niệm từ lúc bắt đầu cho đến khi ăn xong.
Tất
cả mọi việc khác, ngay cả những tác động trong nhà tắm, đều phải làm trong chánh
niệm…………Sau khi làm được điều thiện nào bạn hảy hồi hướng phước báu đến tất cả
chúng sinh, đó là một việc làm tốt đẹp. Cũng vậy, sau khi bạn hành thiền bạn
phải hồi hướng phước báu như sau:
Chúng
tôi xin hồi hướng tất cả những phước báu mà chúng tôi đă tạo đến tất cả chúng
sinh, nguyện cho tất cả đều được an vui hạnh phúc. Chúng tôi xin hồi hướng phúc
báu này đến tất cả chư thiên khắp mọi nơi, xin tất cả đều được an vui hạnh phúc
để hộ tŕ Phật pháp cho được bền vững lâu dài.
Theo
sách “Pour Comprendre le Bouddhisme”tác giả S.Bercholz & Chodzin Kohn
nxb
Pocket Paris 1999
[
tr.199 ].
Exercice fondamental de méditation:
La
meilleure facon de commencer à pratiquer la vigilance, ainsi que le Bouddha l’a
ckairement décrit dans le “Discours de la pratique de la vigilance”(Satipatthăna-sutra),
c’est de s’asseoir et de fixer l’attention sur une des fonctions constantes du
corps, la respiration. Il s’agit d’une fonction (Samakăra)
semi-inconsciente, qui est toujours à notre disposition dans la vie ordinaire et
qui est émotionnellement tout à fait neutre. Ces raisons en font l’objet idéal
pour apprendre à devenir vigilant et à maintenir son attention sur ce qui se
produit maintenant et dans le présent, et ici, en nous.Toute considération
théorique mise à part, la plupart des gens reconnaissent qu’en pratique la
position la plus favorable est la position assise, si possible les jambes
croisées. Il n’est pas nécessaire d’adopter la fameuse position du lotus complet
avec chaque pied reposant sur la cuisse opposée [ngồi kiết già] ni même
le semi-lotus [ngồi bán già] qui peut faire à beaucoup de gens aussi mal
qu’une prise de catch. La simple position avec les jambes en tailleur,[theo
Larousse S’asseoir en tailleur : s’asseoir les jambes repliées et les
genoux écartés( tức là ngồi xếp bằng)] est tout à fait suffisante, quite à
mettre un coussin sous un genou douloureux. Si la position en tailleur ne
convient pas, cela importe peu. Aujourd’hui, même en Orient, beaucoup de
professeurs de méditation pratiquent assis sur une chaise. Les seuls critères
sont que l’on doit adopter une position attentive, dressée, avec le dos
parfaitement droit, et que l’on puisse supporter sans trop de douleur horrible
une heure au moins. Pendant la pratique, il faut s’aseoir calmement sans se
trémousser, être détendu mais attentif, avec les mains dans la position que l’on
voit habituellemen sur les statuettes de Bouddha en méditation, soit les
mains légèrement entrouvertes posées l’une sur l’autre. La tête doit être tenue
droite, les yeux fermés et, dans toute la mesure du possible, les muscles
relâchés. Une fois cette position prise, sauf nécessité, il faut éviter d’en
changer pendant la période donnée. L’endroit approprié pour concentrer
l’attention sur la respiration est le point le plus saillant du visage. Il varie
légèrement d’une personne à l’autre. Certains pensent que le meilleur endroit
est juste au dessus de la lèvre supérieure, d’autres le bout du nez, d’autres
l’intérieur des narines. Peu importe. L’essentiel est que ce soit le point que
chacun trouve le plus clairement. Un essai de quelques respirations devrait vite
le déterminer rapidement. Il faut porter son attention sur la sensation physique
du contact de l’air, non sur le concept de respiration. De même, la respiration
ne doit être ni interrompue ni régulée volontairement. Au début, cela peut être
un peu difficile, et, comme dans les preḿères étapes, il est difficile de
dissocier l’attention pure du contrôle. Cependant. dans ce cas, il faut
seulement essayer d’éviter d’avoir de quelque facon un contrôle inutile et
artificiel de la respiration; il suffit de respirer facilement, naturellement,
et à un rythme normal, mais avec l’esprit attaché à la sensation du contact de
l’air. Mais, au début aussi, il se peut que le prtiquant ait du mal à discerner
ce contact de l’air. Il faut néanmoins continuer sans y prendre garde. La
pratique et la persévérance y porteront grandement remède. Il faut seulement
tenter d’être conscient de la sensation du souffle depuis le moment où commence
l’inhalation jusqu’à son arrêt et, de nouveau, du début à la fin de
l’expiration. Quand on inspire, il faut se répéter : “il entre” et quand on
souffle : “il sort”. C’est un contrôle pour vérifier que l’esprit est tout à son
travail et non en train de divaguer.
Exercice fondamental de marche.
[“kinh
hành”]. Entre les séances de pratique assise, le méditant devrait se
choisir un terrain tranquille ̣u il peut aller et venir sans être relativement
gêné. Il n’est pas nécessaire que ce terrain soit vaste. Si votre chambre n’est
pas trop petite, vous pouvez facilement pratiquer là, ou dans le couloir, ou
dans le sentier du jardin, ou dans l’entrée. Mieux vaut pour cet exercice
marcher délibérément plus lenement que de coutume. Quelque chose qui approche
la vitesse d’une bonne marche lente est idéal, mais il va de soi qu’il faut
marcher de facon aussi simple et naturelle que le permet la vitesse. Pendant
cette période d’aller et retour, l’attention doit se porter sur les mouvements
de la jambe et du pied. Il faut noter quand le pied droit commence à se lever
du sol “se lever” , quand il s’avance “s’avamcer” et quand il revient au sol
“se poser” . Il en va de même du pied gauche et ainsi de suite.
Exactement de la même facon que dans la position assise, et en respirant, il
faut noter les pensées et sensations de facon appropríee. S’il nous arrive de
ragarder quelque chose pendant que nous marchons, il faut immédiatement
enregister “regarder” et revenir au mouvement du pied. Regarder autour de soi
et noter les details des objets, même ceux du sentier, c’est “de la pousśere
dans les yeux” cela ne fait pas partie de la pratique.
Distractions.
Avant
d’avoir longtemps pratiqué, l’étudiant éprouvera une tendance récurrente de
l’esprit à se détourner de l’observation du souffle. Des pensées et des
souvenirs du passé, des espoirs et des craintes du futur, des imaginations, des
phantasmes, des intellectualisa-tions de théories, des doutes et des soucis à
propos de sa propre meditation, des images et des formes qui se présentent à
l’oeil de l’esprit et des stimuli externes qui distraient, tels que bruits,
douleurs, démageaisons, envie de bouger, etc… tout cela tend perpétuellement à
détourner l’esprit vers de “captivants chemins de traverse”. Il ne faut pas se
laisser gêner outre mesure ou être découragé par tout cela. Après tout, c’est
l’état d’esprit qui nous est coutumier. La discipline en est seulement à ses
débuts et Rome n’a pas été bâtie en un jour. De fait, s’il était si facile de
gouverner son esprit, le monde serait plein de sages Éveillés. Le Bouddha a
souligné que, lorsque nous tentons d’extraire l’esprit de ses mauvais ṕeges, il
est comme un poisson que l’on a retiré de son eau natale et posé sur la berge.
Nous l’éprouvons en pratique, mais chacun, à sa facon, s’est trouvé confronté à
la même difficulté. Les hommes éveillés sont issus de ceux qui n’ont pas
désespéré, mais qui ont persévéré et ramené l’esprit sans cesse à sa place,
comme on le fait avec un chiot surexcité que l’on entraine, patiemment mais
fermement, à l’obéissance. Ici comme ailleurs il faut suivre le fil du rasoir,
la Voie du Milieu. Il faut être déterminé à presser, mais avec une détermination
calme, pas le type de détermination qui fonctionne par accès toujours oscillant
entre les pôles du desespoir et du fanatisme. Cela prouve seulement que le Moi
est hypertrophíe, trop impliqué dans sa question (“Je veux être un bon
méditant”). Une détermination détendue et nécessaire, ou, comme disent
traditionnellement les commentateurs bouddhistes, l’équilibre parfait entre la
paix (Samâdhi) et l’énergie (Virya). Comme c’est le cas entre la
discrimination et la foi (Panna et Saddha), il faut ici un parfait
équilibre. La facon de traiter ces distractions consiste à en prendre
immédiatement conscience, à identifier le fait de la distraction, et à le
désigner d’un mot appropríe comme “pensée” . Puis l‘esprit doit revenir à ses
propres activités, notant la sensation de la respiration. De telles tendances à
divaguer doivent être notées dès que possible, dès qu’elles se produi- sent,
et, avec l’habitude, on finit par les remarquer avant qu’elles ne se
manifestent, en tenant l’esprit prêt à se détourner- mais il ne faut pas sauter
dessus ou détourner l’esprit ce faisant. Il faut prendre note, ni trop vite, ni
trop lentement, en suivant la Voie du Milieu, immédiatement, fermement et
clairement, mais pas à la hâte. Cela ne ferait qu’agiter et distraire davantage
l’esprit. Il est dit avec justesse : “Il ne faut pas craindre de laisser
naitre des pensées, mais seulement à tarder à s’en apercevoir”.
Si
l’on continue patiemment à saisir les pensées comme quelqu’un qui ramène le
chiot au pied chaque fois qu’il s’éloigne, on est en méditation et tout va bien.
Ce qui n’est pas la méditation, c’est, d’une part, d’être paresseux, et de
rester assis à rêvasser toute la journée, et, d’autre part, de se rendre malade
et de se désespérer parce que l’on croit que l’esprit ne s’arrêtera jamais. Il
existe d’autres formes de pensées qui peuvent parfois causer une grande
distraction, ce sont les “commentaires annexes”, des pensées du type
“maintenant, je ne pense plus à rien” ou “ les choses se déroulent bien” ou
“c’est affreux, mon esprit ne veut pas rester en place” , et ainsi de suite.
Parfois cela se transforme en pensées sur ce que l’on racontera à son
instructeur à propos de sa méditation et cela devient une véritable
conversation imaginaire. Des pensées de ce genre doivent simplement être notées
á la rubrique “pensées” et, comme le disait Huang Po, simplement “laissées comme
un morceau de bois pourri”. Notez bien qu’il est dit “laissées”, pas “jetées”.
Un morceau de bois pourri ne fait rien pour vous mettre en colère, [et le
jeter] mais comme il n’a aucune utilité, cela n’aurait aucun sens de s’y
accrocher.Il n’ya pas non plus besoin de remonter tous les maillons de la chaine
des pensées assocíees ni de tenter de s’assurer quel est le premier maillon
̣u commence la chaine. De telles tendances doivent, elles aussi, être notées
comme “pensées” et l’esprit doit revenir à la méditation. Aussi mal qu’aillent
les choses, il faut reprendre au seul endroit possible-là ̣u l’on est- et
repartir de là. Les analyses psychologiques sont aussi “pensées’. La pratique de
l’exercice fondamental de respiration doit se poursuivre par séance d’une heure
(ou toute autre période recommandée par l’instructeur).
[Đọan
nói về “Distractions”trên đây, giống như là “Ma cảnh” nói ở một đoạn trước]
Theo
sách “Ngay Trong Kiếp Sống Này”của thiền sư Sayadaw U PanditaTỳ Kheo Khán
Hỷ (Aggasămi Trần Minh Tài) Soạn dịch Như Lai Thư Viện xụất bản 1996 [Chương
5, “ Các Tầng Thiền Minh Sát” tr.253-317]. Ở đây chỉ chép lại
một vài điểm mà thôi.
Các
Tầng Định.[tr.267]:
Không
vọng tâm hay không phóng tâm có nghĩa là tâm chánh niệm kịp thời và chính xác
vào những ǵ đang xẩy ra. Khi tâm chánh niệm một cách tốt đẹp và liên tục vào
tất cả những ǵ đang xẩy ra, th́ tâm sẽ ở vào t́nh trạng gọi là nhập định. Nhập
định có nghĩa là tâm dính chặt vào đề mục và quán sát đề mục đó.
Các
Tầng Định Trong Thiền Chỉ.
Có
hai loại định: định trong Thiền Chỉ ( hay thiền Vắng Lặng)
và định trong Thiền Minh Sát.
Một
số các bạn đă đọc sách và biết được các tầng định trong Thiền Chỉ sẽ lấy
làm ngạc nhiên sao tôi lại nói đến các tầng định trong Thiền Minh Sát. Khi nhập
định trong Thiền Chỉ, lúc bấy giờ bạn hoàn toàn tập trung, dính chặt vào đề muc
duy nhất. – một h́nh ảnh trong tâm chẳng hạn-như tâm tập trung vào một chiếc đĩa
màu đỏ, hay vào ánh sáng. Tâm bị hút chặt vào đề mục đó, không lay động hay di
chuyển đi nơi khác. Cứ như thế thiền sinh chú tâm vào đề mục cho đến khi tâm
hoàn toàn an trụ trên đề mục rồi dần dần tiến vào trạng thái nhập định vào các
tầng thiền. Có rất nhiều tầng thiền khác nhau, mỗi tầng thiền có đặc tính riêng
biệt.
Các
Tầng Định Trong Thiền Minh Sát.
Định
trong Thiền Minh Sát khác với định trong Thiền Chỉ ở chổ tâm chuyển từ đề mục
này sang đề mục khác và an định tâm vào đặc tính vô thường, khổ và vô ngă của
tất cả các đối tượng. Định trong Thiền Minh Sát cũng bao gồm các trường hợp tâm
chuyên chú và gắn chặt vào sự an lạc tĩnh lặng của Niết Bàn. Trong khi mục đích
của Thiền Chỉ là đạt được trạng thái tâm an lạc và nhập định, th́ mục đích
của Thiền Minh Sát là đạt được các tầng tuệ và giải thoát.
Định
trong Thiền Minh Sát là an trụ tâm vào chân đế. Chân đế là những ǵ chúng ta có
thể kinh nghiệm trực tiếp qua sáu cửa giác quan. Phần lớn những ǵ chúng ta nhận
ra hay chú tâm đến ở sáu cửa giác quan đều là chân đế của các pháp. Đó là sự
biến đổi không ngừng của các hiện tượng thân và tâm. Niết Bàn cũng là chân đế,
nhưng Niết Bàn không có sự thay đổi. Niết Bàn là pháp vô vi, vô điều kiện.
Để
biết rơ vấn đề, ta hảy xét đến tiến tŕnh của hơi thở. Những cảm giác mà
chúng ta cảm nhận được ở bụng trong khi theo dơi chuyển động của bụng, đó là
chân đế. Mục đích của sự chú tâm vào chuyển động của bụng là để thấy rơ các đặc
tính và bản chất của các hiện tượng đang xẩy ra ở đây. Khi bạn chú tâm vào sự co
dăn, sự căng thẳng, sự đàn hồi, sự rung chuyển, cứng, mềm, nóng, lạnh, v.v. như
vậy là bạn đă phát triển các mức định tâm của Thiền Minh Sát. Khi quán sát
những ǵ xẩy ra ở sáu cửa giác quan, th́ chúng cũng dùng những phương cách tương
tự như trên. Nếu có nổ lực tinh tấn và chánh niệm đúng đắn, chú tâm vào những ǵ
đang xẩy ra ngay tại cửa giác quan này. Thấy được chân đế ở các cửa giác quan có
nghĩa là thấy được các đặc tính riêng và chung của danh và sắc hay thân và tâm.
Đặc tính riêng của danh hay tâm là sự nhận biết đối tượng bao gồm cả xúc, thọ,
yêu, ghét, chánh niệm, định tâm, buồn, vui, an tịnh, trí tuệ, v.v. Đặc tính
riêng của sắc hay thân là tứ đại : sự cứng mềm (đất), sự nóng lạnh (lửa), sự
chuyển động, căng cứng, rung chuyển (gió), sự dính hút hay lỏng (nước). Danh và
sắc đều có giai đoạn khởi lên, kéo dài và chấm dứt. Đó là đặc tính nhân duyên
hay đặc tính trung gian. Thiền sinh sẽ thấy rơ đặc tính trung gian trước khi
thấy rơ đặc tính chung của danh và sắc là vô thường, khổ năo và vô ngă…
Tóm
Lược Bốn Tầng Thiền Minh Sát.[tr.303]
Ở
tầng Thiền Minh Sát thứ nhất, khi thiền sinh thấy được vô thường, khổ
năo, vô ngă, sự quân b́nh chưa được hoàn toàn phát triển. Ở tầng thiền này,
tầm và tứ mạnh mẽ. Tuy nhiên, sự hướng tâm và áp đặt tâm trên đề
mục vẫn chưa hoàn hảo mà c̣n nhiều sự suy nghĩ.
Trong
tầng Thiền Minh Sát thứ hai , sau khi thiền sinh thấy được sự sinh
diệt của các hiện tượng, sự kích thích, phấn chấn, say mê vẫn c̣n che lấp tâm xả
(tầm, tứ, được loại bỏ) chỉ c̣n lại hỉ, lạc, và nhất tâm.
Ở
Thiền Minh Sát thứ ba, thiền sinh vẫn ở tuệ sinh diệt nhưng tuệ giác
này mạnh mẽ hơn,có một sự an lạc, thoải mái, hạnh phúc ngọt ngào tuyệt diệu vô
biên., nên tâm xả cũng chưa có điều kiện để hé lộ ( tầm, tứ, hỉ được
loại bỏ, chỉ c̣n lạc và nhất tâm.)
Trong
tầng Thiền Minh Sát thứ tư, khi mà sự an lạc thoải mái dể chịu dần
dần tan biến và nhường chổ cho cảm giác vô kư, không vui, không buồn, không yêu,
không ghét, th́ sự quân b́nh có cơ hội hiển bày. Đây là lúc thiền sinh thấy rơ
sự diệt của các hiện tượng (tầm, tứ, hỉ, lạc biến mất mà chỉ c̣n nhất
tâm và xả). Lúc bấy giờ, cũng như ánh sáng ban ngày đă lịm dần,
bóng đêm bắt đầu bao phủ mọi vật. Nhưng trăng rằm xuất hiện, chiếu rạng cả bầu
trời. Đến giai đọan này, việc hành thiền đă lên đến mức độ thâm sâu. Lúc bấy giờ
thiền sinh sẽ thấy rơ mọi diển biến của các hiện tượng diễn ra một cách nhẹ
nhàng êm ái. Tâm bây giờ rất tinh nhạy. Nó có thể di động một cách nhanh chóng
và dễ dàng để chụp lấy đối tượng trước khi tâm bị khuấy nhiễu bởi sự vui, buồn,
yêu, ghét. Bởi thế, ái dục và sân hận không có cơ hội đầu độc tâm. Những đối
tượng thông thường rất khó chịu, hay những đối tượng gây cảm giác kích thích,
say sưa, hồi hộp cũng chẳng ảnh hưởng ǵ đến tâm, bơi v́ cả sáu căn đều có sự
quân b́nh xả thọ tốt đẹp, nên được gọi là lục căn xả thọ.
Tâm ở
trạng thái cực kỳ quân b́nh này được xem như tâm của một vị A-La-Hán, là tâm an
nhiên tự tại, không rung động khi tiếp xúc với các đối tượng hiện ra trên màn
bạc tâm giới. Tuy nhiên, dù bạn có đạt được trạng thái này trong khi hành thiền,
bạn cũng chưa phải là một vị A-La-Hán đâu, bởi v́ ở ngay trạng thái đó và ngay
giây phút chánh niệm đó, bạn mới có tâm giống như tâm của một A-La-Hán mà thôi.
Ở mổi
tầng Thiền Minh Sát, đều có những loại an lạc hạnh phúc khác nhau.
Ở
tầng Thiền Minh Sát thứ nhất,
thiền sinh cảm nhận được hạnh phúc của sự ẩn cư. Thiền sinh xa lánh được phiền
năo. Tâm thiền sinh được an trú vào một nơi an toàn, khỏi mọi chướng ngại và
phiền năo.[tầng Nhập Lưu] Ở tầng Thiền Minh Sát thứ hai, thiền
sinh cảm nhận được sự hạnh phúc của sự định tâm, sự tập trung tâm ư tốt đẹp đem
lại hỉ và lạc.[tầng Nhất Lai] Ở tầng thứ ba,th́
hỉ bị loại bỏ, chỉ c̣n hạnh phúc của sự an lạc thoải mái .[tầng Bất Lai]
Ở tầng thứ tư, tầng thiền cuối cùng, thiền sinh sẽ cảm nhận được hạnh
phúc của trí tuệ .[tầng A La Hán] Dĩ nhiên tầng thiền thứ tư là
tầng thiền có hạnh phúc tốt đẹp và cao tột nhất. Tuy nhiên, cũng như ba tầng
thiền đầu, hạnh phúc vẫn c̣n nằm trong thế giới của nhân duyên, thế giới của
điều kiện. Chỉ khi nào thiền sinh vượt qua khỏi thế giới điều kiện này, lúc ấy
mới đạt được chân an b́nh, hạnh phúc.
Mong
các bạn có thể nếm được hương vị của bốn loại hạnh phúc khởi sanh trong bốn
Tầng Thiền Minh Sát. Đồng thời, cũng cầu mong các bạn tiếp tục theo đuổi chí
hướng của ḿnh để thưởng thức hương vị của hạnh phúc cao nhất, đó là hạnh phúc
Niết Bàn.
Theo
sách “Căn Bản Thiền Minh Sát” của Mahasi Sayadaw, Soạn dịch Thiện Anh
Phạm Phú Luyện, Ban Tu Thư Như Lai Thiền Viện, San Jose CA 95122.{sách dày 220
tr]
Thiền
Vắng Lặng và Thiền Minh Sát [tr.37-39
]:
Có
hai loại thiền: Thiền phát triển sự tĩnh lặng [Thiền Vắng Lặng, (hay
Thiền Chỉ)] và thiền để có được tuệ minh sát hay trí tuệ (Thiền Minh
Sát).
Hành
thiền dùng 10 đĩa Kasina [xem: 40 Đề Mục Thiền Chỉ nói ở đọan trước] làm
đề mục chỉ đưa đến sự tĩnh lặng của tâm chứ không dẫn đến trí tuệ. Hành thiền
trên 10 sự ô trược (xác chết śnh thối chẳng hạn) cũng chỉ đưa đến tĩnh lặng chớ
không phải trí tuệ. Mười sự suy niệm như tưởng nhớ đến các phẩm tính của Đức
Phật, Giáo Pháp, và những thứ khác cũng chỉ phát triển sự tĩnh lặng, không phải
trí tuệ. Hành thiền trên 32 thân phần như tóc, lông, móng, răng, da, cũng không
đưa đến trí tuệ. Chúng chỉ giúp phát triển sự định tâm hay tĩnh lặng mà thôi.
Chú
niệm về hơi thở cũng nhầm phát triển sự định tâm nhưng chùng ta có thể phát
triển trí tuệ từ sự thực tập này. Luân thư Thanh Tịnh Đạo liệt kê sự theo dơi
hơi thở vào những chuyên đề của Thiền Vắng Lặng để phát triển sự định tâm nên
chúng ta cũng xếp loại như vậy. Rồi c̣n Tứ Vô Lượng Tâm gồm Từ, Bi, Hỷ, Xả,
và bốn cỏi vô sắc dẫn đến các tầng thiền vô sắc cũng như sự hành thiền trên sự
bất tịnh của thưc phẩm. Tất cả những đối tượng này cũng là đề mục của Thiền Vắng
Lặng.
Khi
bạn hành thiền về Tứ Đại trong cơ thể, sự thực tập này được gọi là sự phân tích
bốn yếu tố. Tuy đây là Thiền Vắng Lặng, nhưng cũng giúp phát triển trí tuệ.
Tất
cả 40 đề mục trên của Thiền Vắng Lặng (Thiền Chỉ) đều nhằm phát triển sự định
tâm Chỉ có sự theo dơi hơi thở và phân tích Tứ Đại liên hệ đến Thiền Minh Sát.
Những đề mục c̣n lại không đưa đến Tuệ Minh Sát. Nếu bạn muốn phát triển trí tuệ
bạn cần thực hành thêm nữa.
Trở
lại câu hỏi là làm thế nào để phát triển Tuệ Minh Sát hay trí tuệ ?
Câu
trả lời là Chúng ta phát triển Tuệ Minh Sát bằng cách hành thiền về ngũ
uẩn thủ, tức là các tính chất nơi thân và tâm tạo thành chúng sinh (ngũ
uẩn) làm đối tượng cho sự dính mắc (chấp thủ). Ngũ uẩn có thể được
bám níu một cách thỏa thích với ái dục và trong trường hợp này được gọi là “chấp
thủ các đối tượng giác quan”(dục thủ) hoặc chúng được bám níu sai lầm do
tà kiến và như vậy là “chấp thủ do tà kiến” (kiến thủ) . Bạn phải hành
thiền trên các đề mục này để thấy được bản chất đích thật của chúng. Nếu không,
bạn sẽ chấp chặt chúng bằng ái dục hoặc tà kiến. Một khi thấy được chúng đúng
như thật, bạn sẽ không c̣n dính mắc vào chúng nữa. Bằng cách này bạn phát triển
trí tuệ (Tuệ Minh Sát). Chỉ Dẫn Hành Thiền Minh Sát. [tr.171-186]
Thực
tập Thiền Minh Sát là nổ lực của thiền sinh để hiểu được dúng đắn bản chất các
hiện tượng tâm-vật-lư đang xẩy ra chính trong thân tâm của ḿnh. Thân thể mà
thiền sinh nhận biết rơ ràng là một nhóm tính chất vật chất gọi là Sắc Uẩn
(Rupa). Các hiện tượng tinh thần hay tâm lư là những hoạt động của
tâm được gọi là Danh Uẩn (Nama). Các hiện tượng thuộc thân tâm
(danh sắc) đang xảy ra nên được thiền sinh nhận biết rơ ràng mổi khi thấy, nghe,
ngữi, nếm, đụng, hay suy nghĩ. Phải chú tâm theo dơi và ghi nhận như “thấy,
thấy,”, “nghe, nghe,”,”ngữi, ngữi,”,”nếm,nếm”, “đụng,đụng”,”nghĩ, nghĩ”. Tuy
nhiên, vào lúc mới thực tập, thiền sinh không thế nào ghi nhận hết từng đối
tượng đang xảy ra như vậy. Do đó, thiền sinh nên bắt đầu ghi nhận những ǵ nổi
bật và dể nhận biết nhất. Khí thở, bụng phồng rồi sẹp và chuyển động này luôn
luôn rơ ràng. Tính chất vật lư hay sắc phày được biết đến như là yếu tố gió
chuyển động hay Phong Đại(vayodhatu).
Thiền
sinh nên bắt đầu bằng cách chú tâm ghi nhận chuyển động phồng xẹp của bụng. Tâm
có thể phóng đi đây đó trong khi bạn đang cố gắng theo dơi chuyển động của bụng.
Điều này phải được ghi nhận “phóng tâm. phóng tâm” .Khi được ghi nhận như
thế một hoặc hai lần, tâm ngừng phóng và lúc đó bạn trở về theo dơi sự phồng xẹp
của bụng. Bất cứ tư tưởng hay suy nghĩ nào xảy ra cũng đều phải được ghi nhận
hết. Nếu bạn tưởmg tượng, hảy ghi nhận “tưởng tượng, tưởng tượng”. Nếu
bạn suy nghĩ, hảy ghi nhận “suy nghĩ, suy nghĩ” Nếu bạn tính toán, hảy
ghi nhận “tính toán, tính toán” Nếu bạn nhận biết, hảy ghi nhận ”biết,
biết” Nếu bạn cảm thấy vui sướng, hảy ghi nhận “vui, vui” .Nếu bạn
thấy thích thú hảy ghi nhận “thích, thích”. Nếu bạn cảm thấy nản ḷng,
hảy ghi nhận “nản ,nản” Nếu tâm tới một nơi nào , hảy ghi nhận “tới,
tới” Ghi nhận tất cả hoạt động của tâm như vậy được gọi là quán tân trên tâm
hay là Niệm Tâm (cittanupassana).
V́
không ghi nhận được những hoạt động của tâm, chúng ta có khuynh hướng đồng hóa
chúng nó với một người hay một cá nhân, cho chính “Tôi”tưởng tượng, suy
nghĩ, tính toán, nhận biết….Ta nghĩ rằng có một người từ thuở ấu thời cho đến
bây giờ sống và suy nghĩ. Thật ra, không có một cá nhân nào như thế hiện hữu mà
chỉ có những hoạt động liên tục của tâm mà thôi.Đó là lư do tại sao ta phải ghi
nhận những hoạt động của tâm để biết chúng thật sự là vậy. và ghi nhận mỗi một
hoạt động của tâm ngay khi chúng vừa sanh khởi. Khi được ghi nhận như thế,nó có
khuynh hướng biến mất và chúng ta trở lại ghi nhận chuyển động pḥng xẹp của
bụng.
Khi
bạn ngồi thiền một thời gian lâu, những cảm giác nóng và tê cứng sanh khởi trong
thân. Ta phải ghi nhận chúng cũng như các cơn đau, nhức, mỏi, mệt. Tất cả những
cảm thọ khó chịu đựng gọi là Khổ Thọ và sự ghi nhận chúng là cách quán
thọ trên thọ hay Niệm Thọ (vedananupassana) . Không kịp ghi nhận
hay bỏ qua những cảm thọ này khiến bạn nghĩ ;”Tôi bị tê cứng, tôi
cảm thấy nóng, tôi đang đau. Mới vừa rồi tôi không sao cả mà bây
giờ tôi thấy thệt khó chịu với những khổ thọ này”. Đồng hóa các cảm thọ
này với bản ngă là một sự lầm lẫn. Thật sự, không có “Tôi” dính dáng vào
đây, chỉ có những cảm thọ tuần tự xảy ra mà thôi.
Điều
này cũng giống như một mạch điện phải phát ra liên tục mới làm cháy sáng bóng
đèn. Mổi một lần có sự xúc chạm khó chịu xảy ra nơi thân, thọ khổ sanh khởi liên
tiếp nhau. Những cảm thọ này được chú tâm khắn khít ghi nhận cho dù là cảm giác
nóng, tê cứng hay đau nhức. Lúc mới thực tập, những cảm giác này thường có
khuynh hướng gia tăng và đưa đến ưmuốn thay đổi tư thế. Ư muốn này nên được ghi
nhận “muốn, muốn” và sau đó trở lại theo dơi cảm giác , nóng, căng cứng…
Châm
ngôn nói “Kiên nhẫn dẫn đến Niết Bàn” rất đúng trong quá tŕnh thiền tập.Thiền
sinh nên kiên tŕ thực tập v́ nếu cứ thay đổi tư thế hoài, do không chịu đựng
được những cảm giác nóng hay tê cứng, sanh khởi sẽ không phát triển được, sự
định tâm. Định tâm không phát triển, tuệ giác không thể xảy ra để tiến đạt Đạo,
Quả, và Niết Bàn.Đó là lư do tại sao kham nhẫn rất cần cho việc hành thiền để
chịu đựng đủ loại khổ thọ không ngừng sanh khởi trong thân. Thiền sinh không nên
bỏ cuộc hay thay đổi ngay tư thế mà phải tiếp tục kiên tŕ ghi nhận chúng. Những
khổ thọ vừa phải sẽ biến mất nếu được ghi nhận một cách liên tục như vậy.Khi sự
định tâm phát triển tốt đẹp, ngay cả những cảm giác thái quá cũng có khuynh
hướng biến mất. Sau đó lại trở về ghi nhận chuyển động phồng xẹp của bụng.
Dĩ
nhiên ta có thể thay đổi tư thế nếu sau một thời gian dài ghi nhận mà các khổ
thọ không những không biến mất, mà c̣n trở nên quá mức chịu đựng được nữa. Lúc
đó nên bắt đầu ghi nhận ư muốn thay đổi tư thế “muốn đổi, muốn đổi” . Nếu
đưa tay lên, ghi nhận “đưa lên, đưa lên” . Nếu di chuyển, ghi nhận “di
chuyển, di chuyển”. Và ṭan bộ chuyển động thay đổi tư thế diển ra một cách
chậm răi, nhẹ nhàng, song song với ghi nhận “đưa lên, đưa lên; di chuyển, di
chuyển; đựng, đụng”. Nếu cơ thể xêdịch, ghi nhận “xê dịch, xê dịch”.
Nếu đưa chân lên, ghi nhận “đưa lên, đưa lên”. Nếu để chân xuống, ghi
nhận “để xuống, để xuống”. Ghi nhận không nên gián đoạn mà phải liên tục
giữa ghi nhận trước và ghi nhận kế tiếp, giữa định tâm trước và định tâm tiếp
theo, giữa tỉnh giác trước và tỉnh giác theo sau. Phải thực tập như vậy thiền
sinh mới có được những tuệ giác tuần tự phát triển. Đạo Tuệ và Quả Tuệ chỉ
thành đạt khi có động lực huân bồi thuần thục này.Tiến tŕnh thiền tập cũng
giống như diển tŕnh lấy lửa bằng cách cọ sát hai thanh củi vào với nhau không
ngừng nghỉ để tạo được độ nóng cần thiết cho ngọn lửa phát sanh.
Tương
tự như vậy, sự ghi nhận trong Thiền Minh Sát nên liên tục và không suy giảm,
không có thời khoảng ngưng nghỉ khi theo dơi các hiện tượng đang sanh khởi.Ví
dụ, khi cảm giác ngứa ngáy nổi lên và thiền sinh muốn găi v́ không chịu đựng
được, cả hai cảm giác ngứa và ư muốn loại bỏ cảm giác này phải đều được ghi nhận
chứ không nên vội vă găy liền. Nếu chịu khó nhẫn nhục ghi nhận như vậy, cảm
giác ngứa ngáy thường biến mất. Trong trường hợp này thiền sinh trở về ghi nhận
chuyển động phồng xẹp của bụng. Nếu sự ngứa ngáy vẫn c̣n, dĩ nhiên thiền sinh
pgải găi để hết ngứa. Tuy nhiên, trước hết phải ghi nhận ư định muốn găi. Tất cả
mọi động tác trong diễn tŕnh loại bỏ cảm giác ngứa ngáy đều nên đươc ghi nhận,
đặc biệt là sự đụng vào chỗ ngứa và cử động găi. Sau đó trở lại ghi nhận chuyển
động phồng xẹp của bụng .
Mổi
khi muốn thay đổi tư thế, bạn phải bắt đầu với sự ghi nhận ư nuốn thay đổi và
rồi tiếp tục tuần tự theo dơi mổi cử động một cách chặt chẽ như động tác đứng
dậy, tư thế ngồi hay đưa tay lên, đưa tay tới hay duỗi tay ra, hay thân h́nh đưa
tới trước. Khi bạn đứng dậy, có thể bạn trở nên nhẹ và đứng lên, hăy chú tâm vào
chuyển động này và ghi nhận “đứng dậy, đứng dậy”.
Thiền
sinh nên hành động như một bệnh nhân. Người khỏe mạnh b́nh thường đứng lên dễ
dàng nhanh chóng, nhưng người bệnh không được như vậy, chỉ cử động một cách nhẹ
nhàng, chậm chạp. Giông như người bị đau lưng, chỉ đứng dậy từ từ cho đỡ đau.
Thiền
sinh v́ thế cũng vậy, nên thay đổi tư thế một cách chậm răi, nhẹ nhàng, để kịp
ghi nhận và do đó chánh niệm, định tâm và tỉnh giác phát triển tốt đẹp. Không
những thế, khi mắt thấy, thiền sinh làm như không thấy và tương tự như vậy đối
với tai nghe. Trong khi hành thiền, quan trọng là tâm ghi nhận chứ không phải là
những ǵ thấy và nghe. Không nên bận tâm vào bất cứ những ǵ lạ lùng được thấy
hay nghe, chỉ biết ghi nhận tâm thấy, tâm nghe mà thôi.
Lúc
bắt đầu kinh hành, thiền sinh nên làm nhẹ nhàng và chậm răi như người yếu ớt khi
di chuyển tay và chân, co vào hay duỗi ra, cuối đầu xuống hay ngẩng đầu lên. Khi
đứng dậy từ thế ngồi, thiền sinh nên làm từ từghi nhận” đứng dậy, đứng dậy”
đồng thời với sự nhẹ khi bước lên. Khi đứng thẳng lên rồi, ghi nhận “đứng,
đứng”. Khi nh́n để định hướng đi, ghi nhận “nh́n, nh́n” và khi đi ghi
nhận bước chân. Phải ghi nhận tất cả những cử động từ lúc dở chân đến khi để
xuống.
Thiền
hành (hay kinh hành) thường có ba cách để ghi nhận :
- Lúc
đầu, khi đi nhanh hay đi một quảng đường xa, thiền sinh chỉ ghi nhận “phải,
trái” hay “mặt bước, trái bước” cho từng bước chân.
- Kế
đến, khi đi chậm vừa phải, thiền sinh nên bắt đầu với hai giai đoạn dở chân lên
và đặt chân xuống, ghi nhận chính xác động tác “ dở, đạp” trong mổi bước
chân. Sự ghi nhận như vậy trở nên dễ dàng sau vài ngày thực tập.
-
Cuối cùng, khi đi thật chậm (hay kinh hành), ghi nhận ba chuyển động trong mổi
bước chân là dở chân, đưa tới, và để xuống “dở, bước, đạp”. Theo dơi
chính xác mổi bước chântừ đầu cho đến cuối và ghi nhận các trạng thái thay đổi
cứng mềm, nặng nhẹ,… trong từng chuyển động để thấy được đặc tính riêng của nó.
Khi
đang đi,muốn dừng lại hay ngồi xuống, trước hết phải ghi nhận “muốn, muốn,
muốn cho ư muốn của ḿnh. Khi thật sự ngồi xuống, ghi nhận động tác “xuống
nặng” của ṭan thân. Khi ngồi xuống rồi,ghi nhận sự sắp xếp chân tay. Khi
thân đă ḥan toàn trong thế ngồi bất động,hăy ghi nhận chuyển động phồng xẹp của
bụng. Mếu muốn nằm xuống, ghi nhận ư muốn và chuyển động của thân phần bạn muốn
nằm xuống. Cử động đưa tay ra, di chuyển tay, đặt cùi tay trên sàn nhà, duỗi
chân, sắp xếp cơ thể để nằm xuống,các điểm đụng của thân thể trên sàn nhà, tất
cả đều phải được ghi nhận.
Tất
cả những chuyển động của thân xếp đặt tay chân khi nằm xuống nên được ghi nhận
một cách cẩn thận và liên tục. Khi nằm yên hăy theo dơi sự phồng xẹp của bụng.
Ngay cả khi đă khuya và quá giờ ngủ, thiền sinh chớ nên vội ngủ mà bỏ qua sự
ghi nhận. Một người thiền sinh nghiêm chỉnh và tinh tấn nên thưc tập chánh niệm
giống như là hy sinh cả giấc ngủ. Nếu sự thiền tập tốt đẹp, người đó sẽ không
ngủ. Khi buồn ngủ, nên ghi nhận “buồn ngủ, buồn ngủ” Nếu hai hàng mi
trĩu xuống, ghi nhận “xuống, xuống” , nếu thấy năng, ghi nhận “nặng,
nặng” . Nếu thấy cay mắt, ghi nhận “cay, cay” . Ghi nhận như vậy, sự hôn
trầm có thể hết và sẽ tỉnh táo trở lại. Lúc đó thiền sinh ghi nhận “tỉnh,
tỉnh” và tiếp tục theo dơi sự phồng xẹp của bụng. Tuy nhiên, mặc dầu thiền
sinh tiếp tục hành thiền một cách kiên nhẫn, sự buồn ngủ vẫn xảy ra và thiền
sinh rơi vào giấc ngủ. Thời gian ngủ là thời gian nghỉ ngơi. Nhưng đối vời thiền
sinh nghiêm chỉnh, thời gian ngủ nên giới hạn vào bốn tiếng đồng hồ mà thôi.
Đây là thời gian ngủ được Đức Phật cho phép. Ngủ bốn tiếng đồng hồ là đủ rồi.
Đối với thiền sinh mới bắt đầu thực tập, nếu bốn tiếng không đủ th́ có thể ngủ
năm hay sáu tiếng. Ngủ sáu tiếng là quá đủ cho sức khỏe. Khi thức dậy phải tiếp
tục ghi nhận ngay lập tức. Thiền sinh nhấm vào việc đạt Đạo và Quả chỉ ngừng
tinh tấn khi ngủ mà thôi. Những th́ giờ c̣n lại là thời gian tỉnh thức nên tiếp
tục ghi nhận không ngừng nghỉ. Do đó ngay sau khi vừa tỉnh giấc, thiền sinh nên
ghi nhận sự tỉnh thức của tâm là “tỉnh thức, tỉnh thức’. Nếu không ghi
nhận được giây phút tỉnh thức đầu tiên ấy, nên theo dơi sự phồng xẹp của bụng.
Khi ngồi dậy, tất cả cử động của tứ chi đều phải được ghi nhận. Thiền sinh cũng
nên theo dơi các động tác khi rửa mặt và tấm. Rồi đến mặc quần áo, dọn giường,
mỏ và đóng cửa. Những cử động trong những công việc này thường diễn ra nhanh
chóng ; do đó cố gắng ghi nhận càng nhiều càng tốt. Đến bửa ăn, khi nh́n vào bàn
để thức ăn, nên ghi nhận “nh́n thấy, nh́n thấy” …..rồi “nhai, nhai”
… “nuốt, nuốt” v.v… cũng như ghi nhận những cử động của tứ
chi, cúi và ngửng đầu, di chuyển của cơ thể khi chúng xảy ra. Rồi trở lại chuyển
động phồng xẹp của bụng. Liên tục theo dơi như vậy sẽ có khả năng ghi nhận
càng khắn khít những ǵ đang xảy ra. Lúc đầu, khi phóng tâm đây đó, thiền sinh
có thể quên ghi nhận nhiều thứ. Tuy nhiên, đừng nản ḷng, ai bắt đầu hành thiền
cũng đều gặp khó khăn như vậy. Nhưng càng thực tập nhiều càng có thể ghi nhận
được mọi sự phóng tâm cho đến cuối cùng tâm không phóng nữa. Sau đó tâm an trụ
trên đề mục, tâm chú niệm trở nên hầu như đồng thời với đề mục được theo dơi như
chuyển động phồng xẹp của bụng. Nói một cách khác, chuyển động phồng của bụng
diển tiến cùng lúc với tâm ghi nhận , và cũng tương tự như vậy đối với sự xẹp
của bụng.
Đối
tượng vật chất của sự ghi nhận và tâm ghi nhận, sanh khởi đồng thời với nhau,
theo từng cập đôi, mà không có người hay cá nhân nào trong đó cả. Thiền sinh rồi
sẽ chính ḿnh kinh nghiệm thật sự điều này. Trong khi theo dơi chuyển động phồng
xẹp của bụng, thiền sinh sẽ biện biệt được sự phồng của bụng là hiện tượng
vật chất hay là “sắc pháp và trạng thái theo dơi của tâm là hiện
tượng tâm hay là “danh pháp” .
Và
cũng tương tự như vậy, với sự xẹp của bụng. Do đó thiền sinh sẽ kinh nghiệm một
cách rơ ràng sự xảy ra đồng thời của cập đôi hiện tượng “tâm-vật lư” này. Như
vậy, mỗi động tác theo dơi, thiền sinh tự biết rơ ràng là chỉ có “sắc pháp”
là đối tượng theo dơi, và tận theo dơi đối tượng đó là “danh pháp”. Sự
hiểu biết rơ ràng như vậy được gọi là Tuệ Biện Biệt Danh Sắc, tuệ giác
đầu tiên và là một bước tiến quan trọng trong Thiền Minh Sát. Tiếp tục hành
thiền, tuệ giác sau đó là tuệ phân biệt nhân và quả, được gọi là Tuệ Tương
Quan Nhân Quả.
Vẫn
tiếp tục ghi nhận, thiền sinh sẽ tự thấy rằng những ǵ sanh khởi chẳng bao lâu
sau đó sẽ hoại diệt. Người thường nghĩ rằng cả hai hiện tượng tâm và vật lư tiếp
tục kéo dài suốt đời người nghĩa là từ lúc thiếu thời cho đến lúc lớn khôn.
Thật ra không đúng như vậy. Không có hiện tượng nào tồn măi mà tất cả đều hoại
diệt nhanh chóng không kéo dài nổi một nháy mắt. Thiền sinh sẽ tự kinh nghiệm
được điều này và rồi sẽ chấp nhận đặc tánh vô thường của tất cả các hiện tượng.
Đó là Tuệ Vô Thường.
Tuệ
này được theo sau bởi Tuệ Khổ Năo hay Tuệ Bất Toại Nguyện. Khi nhận ra được
rằng tất cả những ǵ vô thường đều khổ năo, thiền sinh cũng sẽ gặp tất cả những
cảm thọ nơi cơ thể và tự thấy đó là tập hợp đau khổ hay Khổ Uẩn. Đây là Tuệ
Khổ Năo. Kế đó thiền sinh tự thấy các hiện tượng tâm-vật lư xảy ra theo cách
thế thiên nhiên của chúng không theo ư của bất cứ ai và không chịu để ai điều
khiển. Chúng không tạo nên cá nhân hay thực thể bản ngă nào cả. Kinh nghiệm này
là Tuệ Vô Ngă.
Tiếp
tục tích cực hành thiền, thiền sinh sẽ thân chứng một cách chắc chắn tất cả
các hiện tượng là vô thường, khổ và vô ngă, và cuối cùng sẽ chứng ngộ Niết
Bàn.
Các
vị Phật, A-La-Hán, và các bậc Thánh đều chứng ngộ Niết Bàn theo con đường này.
Tất cả thiền sinh nên nhận thức rằng chính họ đang đi trên con đường niệm xứ này
để thành đạt ước nguyện giác ngộ Đạo Tuệ, Quả Tuệ và Pháp Niết Bàn
theo mức độ viên măn ba-la-mật hay phước báu của ḿnh. Chúng ta nên hoan hỉ với
điều này và với triển vọng được kinh nghiệm thánh định và thánh kiến mà chư
Phật, A-La-Hán và các bậc Thánh đă chứng nghiệm. Sẽ không bao lâu nữa thiền
sinh sẽ thành đạt Đạo Tuệ, Quả Tuệ, và Pháp Niết Bàn mà Phật,
A-La-Hán và các bậc Thánh đă chứng nghiệm. Hăy yên tâm với niềm tin tưởng rằng
ḿnh kinh nghiệm các pháp này cũng như bỏ được thân kiến, hoài nghi và không
c̣n rơi vào các cơi ác đạo. Thiền sinh nên tiếp tục pháp hành với đức tin vững
mạnh như vậy.
Mong
cho các bạn có thể thực tập Thiền Minh Sát tốt đẹp và thành đạt nhanh
chóng Niết Bàn mà chư Phật, A-La-Hán và các bậc Thánh đă chứng ngộ.
N.L.V.